Hồ Chí Minh với thắng lợi của Cách mạng Tháng tám và thiết lập thể chế cộng hòa dân chủ Việt Nam

08:37 |

Học thuyết của Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển dân tộc theo con đường cách mạng vô sản thể hiện tính cách mạng triệt để và tính nhân văn sâu sắc: giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần, mà trước hết là giải phóng con người khỏi sự áp bức dân tộc. Một trong những ưu điểm của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là chuẩn bị đầy đủ và đúng nguyên tắc. Là linh hồn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kiến trúc sư của nền độc lập dân tộc và thể chế chính trị cộng hoà dân chủ Việt Nam, Hồ Chí Minh là biểu tượng của khát vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.
1. Xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản và phương thức khởi nghĩa dân tộc
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có nhiều mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và tay sai phản động. Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức. Trong khi đó, sự xung đột về quyền lợi giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc được giảm thiểu và cuộc đấu tranh giữa các giai cấp không quyết liệt như cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc. Nhận thức được thực tiễn đó, từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản vào Việt Nam, xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc và truyền bá trong nhân dân. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người phân biệt hai loại cách mạng (giai cấp kách mệnh và dân tộc kách mệnh), đồng thời xác định tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn trước mắt là “dân tộc kách mệnh”.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo hết sức nhấn mạnh nhiệm vụ chống đế quốc trên cả hai phương diện chính trị và kinh tế: “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông”; “tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ công nông binh”; “tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo”.
Vận dụng “phương pháp làm việc biện chứng” của C. Mác, Hồ Chí Minh phân tích thực tiễn xã hội Việt Nam thuộc địa, không coi thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là vấn đề nông dân, cũng không xem nguyện vọng số một của nông dân Việt Nam thời thuộc địa là ruộng đất. Người nhấn mạnh yêu cầu khách quan của lịch sử cách mạng ở thuộc địa là giành độc lập tự do cho toàn dân tộc, mà chủ yếu là nông dân.
Trong quá trình vận dụng lý luận Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã xuất hiện khuynh hướng giáo điều, nên lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh bị phê phán và trải qua những thử thách khắc nghiệt trong nửa đầu những năm 30 của thế kỷ XX, nhưng Người đã cùng với Trung ương Đảng kiên trì và khéo léo vượt qua.
Tháng 5-1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, phân tích thái độ chính trị của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam, Hội nghị nêu rõ dưới hai tầng áp bức Nhật – Pháp, “quyền lợi của tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng”. Thực dân Pháp và quân phiệt Nhật Bản không chỉ là kẻ thù của công nông, mà là kẻ thù chung của toàn dân tộc.
Hội nghị quyết định: "Cần phải thay đổi chiến lược” và chỉ rõ: "cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng"". Hội nghị phân tích: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được". Vì vậy, phải tạm gác khẩu hiệu "đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày". Quyền lợi của nông dân được giải quyết ở một mức độ thích hợp bằng việc thực hiện các khẩu hiệu: tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công, giảm tô, giảm tức.
Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, nhằm thực hiện chính sách “dân tộc tự quyết”. “Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành thành một dân tộc quốc gia tùy ý”. "Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng"[1]. Cách giải quyết đó có tác dụng phát huy sức mạnh mỗi dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, đập tan những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù về vấn đề dân tộc, đồng thời tạo điều kiện đoàn kết ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Phương thức khởi nghĩa dân tộc được Hồ Chí Minh hết sức coi trọng. Người chủ trương toàn dân khởi nghĩa, toàn dân nổi dậy; bất kể già, trẻ, gai trai, dân, lính đều làm cách mạng. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhấn mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam trong giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước. Nghị quyết hội nghị ghi rõ: "Phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù…" . Trong những hoàn cảnh nhất định "với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”[2].
Chủ trương giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc và quan điểm về khởi nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh là sự chuẩn bị về đường lối và phương thức giành thắng lợi cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.
2. Sáng lập Mặt trận Việt Minh, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và chuẩn bị lực lượng chính trị
Quy luật của vận động là tự thân vận động. Công cuộc giải phóng dân tộc bị áp bức không thể bị động trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài, mà trước hết phải dựa vào sức mạnh bên trong của mỗi dân tộc. Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa (1921) do Hồ Chí Minh khởi thảo nêu rõ: "Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em"[3].
Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương “phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng"[4]. Người đánh giá sức mạnh của toàn dân vũ trang là một ưu thế tuyệt đối để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người cho rằng: "Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng", lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm cả dân tộc: “dân tộc cách mệnh chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”, trong đó “công nông là gốc cách mệnh”, là “chủ cách mệnh”, còn “học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách mệnh”.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng chủ trương tập hợp lực lượng toàn dân tộc, bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, trung nông; tranh thủ hoặc trung lập phú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam...; phản ánh tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.
Để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng, việc xây dựng lực lượng chính trị là mối quan tâm hàng đầu của Người. Đó vừa là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng, vừa là lực lượng trực tiếp đấu tranh bằng những hình thức từ thấp đến cao. Lực lượng chính trị là đạo quân cách mạng đông đảo, bao gồm tất cả quần chúng được giác ngộ và tổ chức. "Muốn có đội quân vũ trang phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự nguyện cầm súng thì mới thắng được"[5].
Khi mới về nước (đầu năm 1941), Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng thí điểm mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng nhằm rút kinh nghiệm cho phong trào cả nước. Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) chủ trương vận dụng “một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân”. Vì thế mặt trận “không thể gọi như trước là mặt trận thống nhất dân tộc phản đề Đông Dương, mà phải đổi ra cái tên khác cho có tính chất dân tộc hơn”, đó là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Các đoàn thể trong Việt Minh đều mang tên cứu quốc nhằm đoàn kết mọi người Việt Nam có lòng yêu nước thương nòi. “Trong khi tổ chức một đoàn thể cứu quốc điều cốt yếu là không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc”[6]. Trong thư Kính cáo đồng bào (6-6-1941), Hồ Chí Minh viết: “Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều:
Toàn dân đoàn kết”.
“Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”. “Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có tài năng góp tài năng”[7].
Hồ Chí Minh kêu gọi quần chúng tham gia Việt Minh nhằm:
“Quyết làm cho nước non này,
 Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”[8].
Viết Bài ca du kích (1942), Người kêu gọi tất cả già trẻ, gái trai, dân lính đều tham gia đánh giặc. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22-12-1944) Người khẳng định: cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân. Khởi nghĩa vũ trang không phải là một cuộc đấu tranh quân sự thuần tuý. Trong tác phẩm Con đường giải phóng, Người cho rằng: khởi nghĩa vũ trang là nhân dân vùng dậy dùng vũ khí đuổi quân cướp nước. Đó là một cuộc đấu tranh to tát về chính trị và quân sự, là việc quan trọng, làm đúng thì thành công, làm sai thì thất bại.
Việt Minh là khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và tôn giáo yêu nước, có tác dụng cô lập cao độ kẻ thù đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng. Đó là nơi tổ chức, giác ngộ và rèn luyện lực lượng chính trị cho cách mạng, một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
3. Từng bước chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng
Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đào tạo cán bộ quân sự, nghiên cứu lý luận quân sự, đặt nền móng cho sự ra đời lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.
Là một nhà hoạt động quốc tế, Hồ Chí Minh nghiên cứu các vấn đề quân sự ở nhiều nước trên thế giới, tiếp thu có chọn lọc những nội dung tích cực, phù hợp của tinh hoa quân sự thế giới. Nghiên cứu về quân đội ở Trung Quốc, Người ghi chép Những hiểu bết cơ bản về quân sự. Người cũng quan tâm nghiên cứu, phổ biến kinh nghiệm tổ chức, xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang ở cơ sở. Những năm 1941-1944, Người viết Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Pháp, Kinh nghiệm du kích Nga. Những di sản quân sự phương Đông cổ đại được người chắt lọc qua việc biên dịch Phép dùng binh của ông Tôn Tử (1943), Phép thuật làm tướng của Khổng Minh. Đặc biệt, Người biên soạn nhiều tài liệu huấn luyện cán bộ quân sự, tiêu biểu là Chiến thuật du kích.
Cách mạng phải có nơi đứng chân để giải quyết vấn đề tiềm lực. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng phải có chỗ đứng chân, chỗ đứng chân vững chắc nhất là lòng dân. Người hết sức chú trọng các yếu tố nhân hoà và địa lợi. Năm 1940, khi còn ở Quế Lâm, Hồ Chí Minh đã tính đến việc xây dựng căn cứ địa ở Cao Bằng, rồi phát triển xuống Thái Nguyên. Đầu năm 1941, khi mới về nước Người chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân đầu tiên vì đó là nơi "có phong trào tốt từ trước", "có hàng rào quần chúng bảo vệ", lại là nơi có địa thế hiểm yếu, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”, nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về xuôi thì cách mạng mới thắng lợi. Trong thời kỳ kháng Nhật cứu nước, khi vùng giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng và củng cố thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước.
Trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh ở Cao Bằng, các đội tự vệ cứu quốc ra đời. Cuối năm 1941, Người chỉ thị thành lập một đội vũ trang nhỏ gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc.
Cuối năm 1944, Người ra Chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động và phương châm tác chiến của lực lượng vũ trang. Đó là Cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng. Chấp hành chỉ thị này, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Ba ngày sau, Đội đánh thắng hai trận liên tiếp ở Phai Khắt và Nà Ngần. Đó là “đội quân đàn anh”. “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”[9].
Thực hiện tư tưởng vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân của Hồ Chí Minh, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân (5-1945), đồng thời lực lượng bán vũ trang gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu được xây dựng ngày càng rộng khắp ở các địa phương và cơ sở.
Quá trình chuẩn bị lực lượng là một quá trình kết hợp tổ chức và đấu tranh, thông qua đấu tranh để rèn luyện lực lượng và củng cố tổ chức. Bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng. Lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều là chỗ dựa của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trong một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân, tạo ra sức mạnh áp đảo, làm tan rã bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.
4. Chủ động đánh giá thời cơ và kiên quyết chớp đúng thời cơ, phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ. Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. Khi còn ở Quế Lâm, Trung Quốc (11-1940), nghe tin về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Người nói: Tình hình chung trên thế giới ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay khởi nghĩa đã nổ ra rồi, thì cần rút lui cho khéo để duy trì phong trào. Là bậc thầy về tạo lực, lập thế, tranh thời, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề thời cơ. Trong bài thơ Học đánh cờ, Người viết: “Phùng thời, nhất tốt khả thành công” (Gặp thời, một tốt có thể thành công)[10].
Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) khẳng định: “Cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Chúng ta phải “luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù”[11].
Vận dụng luận điểm của Lênin về tình thế cách mạng, trong tác phẩm Con đường giải phóng do Hồ Chí Minh chỉ đạo biên soạn, nêu ba điều kiện của thời cơ khởi nghĩa:
Một là, chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bối rối đến cao độ, chúng đã cảm thấy không thể ngồi yên nắm giữ địa vị của chúng như trước.
Hai là, quần chúng đói khổ đã căm thù thực dân đế quốc đến cực điểm, đã thấy cần phải đồng tâm hiệp lực, nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân, vì mọi người hiểu rằng nếu ngồi yên cũng chết.
Ba là, đã có một chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức, lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa theo một đường lối đúng đắn, một kế hoạch phù hợp, đảm bảo giành thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa.
Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ muốn gây cuộc khởi nghĩa bằng võ trang phải nhằm vào các điều kiện chủ quan:
“1) Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc.
2) Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp – Nhật, mà đã sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa.
3) Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực điểm vừa về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.
4) Những điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như quân Tàu đại thắng quân Nhật, Cách mạng Pháp hay Cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh – Mỹ tràn vào Đông Dương”[12].
Tháng 6-1941, trong thư Kính cáo đồng bào, Hồ Chí Minh chỉ rõ một trong các nguyên nhân thất bại của các cuộc khởi nghĩa trước đây là vì cơ hội chưa chín. Mùa thu 1944, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa ở Cao - Bắc - Lạng vì cả nước chưa có điều kiện hưởng ứng, kẻ thù có thể tập trung lực lượng đàn áp khởi nghĩa ở một địa phương.
Đảng và Hồ Chí Minh luôn chủ động dự đoán thời cơ. Đánh giá chính xác xu thế phát triển của thời cuộc, tháng 10-1944, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc, nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”[13].
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Chính phủ Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; thế lực Việt gian thân Nhật hoảng sợ. “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi”. “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”.
Tuy nhiên thời cơ này không tồn tại vĩnh viễn. Nó sẽ biến mất khi quân Đồng minh vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Với bản chất thực dân đế quốc, họ có thể dựng ra một chính quyền trái với ý chí và nguyện vọng của dân tộc Việt Nam. Đế quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương. Các thế lực phản động trong nước đang tìm cách thay thầy đổi chủ. Thời cơ cách mạng chỉ tồn tại trong khoảng thời gian từ khi quân phiệt Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến, là lúc so sánh lực lượng có lợi nhất đối với cách mạng.
Ngày 16-8-1945 Hồ Chí Minh kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ"[14]. Với tinh thần kiên quyết chớp thời cơ, Người căn dặn: lúc này thời cơ vô cùng thuận lợi đã đến. Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được tự do và độc lập. Với tầm nhìn xa, trông rộng, Người chỉ rõ: phải giành được chính quyền và đứng ở vị thế người làm chủ nước nhà để đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam nhất tề nổi dậy ở cả thành thị và nông thôn. Cách mạng Việt Nam tiến đến bước nhảy vọt vĩ đại: nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần trong cao trào kháng Nhật cứu nước lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, cách mạng tháng Tám đã giành được thắng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”. Đó là một điển hình thành công về nghệ thuật tạo thời cơ, dự đoán thời cơ, nhận định chính xác thời cơ, đồng thời kiên quyết chớp thời cơ phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
5. Sáng lập thể chế chính trị cộng hòa dân chủ và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế mới dân chúng được hạnh phúc”[15].
Hồ Chí Minh rất quan tâm xem xét các mô hình nhà nước và thể chế chính trị ở Mĩ, Pháp, Liên Xô. trong Chánh cương vắn tắt, Người chủ trương “dựng ra chính phủ công nông binh”. Đó là chính quyền nhà nước của quảng đại quần chúng lao động bị áp bức đứng lên giành độc lập tự do. Mặc dù vậy, đến năm 1941, Người chủ trương thay hình thức chính quyền công nông bằng hình thức cộng hòa dân chủ cho phù hợp với tính chất và lực lượng cách mạng ở thuộc địa. “Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp – Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”[16]. Trong khi tuyên truyền “Không nên nói đánh đổ Nam triều phong kiến và tịch thu ruộng đất của địa chủ mà nói diệt trừ bọn Việt gian phản quốc..., không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa[17]. “Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà... Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra"[18].
Khi thời cơ giải phóng dân tộc Việt Nam đang đến gần, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc (10-1944 ), Hồ Chí Minh nói: trước hết cần có một chính phủ đại biểu cho sự chân thành và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân, gồm tất cả các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. “Một cơ cấu như thế  mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”[19].
Từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểu cho khối đoàn kết dân tộc là một quyết định sáng suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh nét đặc thù của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở nước Việt Nam thuộc địa với những tàn tích phong kiến nặng nề, phù hợp với sự thay đổi chiến lược và sách lược của cách mạng trong giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước.
Với chủ trương thành lập thể chế cộng hoà dân chủ, Đảng và Hồ Chí Minh không coi triều đình nhà Nguyễn nói chung, vua Bảo đại nói riêng là kẻ thù của cách mạng, mặc dù họ không chống Pháp, tồn tại trên cơ sở đầu hàng và nhờ sự dung dưỡng của thực dân Pháp. Khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Bảo Đại có ảo tưởng “giành độc lập” bằng cách thành lập nội các Trần Trọng Kim, tập hợp một số trí thức yêu nước[20], nhưng không có bất cứ hành động nào chống lại quân phiệt Nhật.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Chính phủ Nhật đầu hàng Đồng minh. Quốc dân Đại hội họp tại Tân trào (16 và 17-8-1945) cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, “để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập”[21].
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Chính quyền của Nhật và tay sai bị đập tan. Tàn dư của chế độ quân chủ chuyên chế do thực dân Pháp duy trì ở Việt Nam được xoá bỏ bằng Tuyên cáo thoái vị của Hoàng đế Bảo đại[22]. “Chính quyền cách mạng được thừa nhận, hợp pháp hóa một cách vẻ vang nhất bởi sự tham gia cuồng nhiệt của toàn thể nhân dân Việt Nam”[23].
Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi về Hà Nội (25-8-1945), Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với 15 thành viên do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tuyên cáo của Chính phủ Lâm thời (28-8-1945) nêu khẩu hiệu “Toàn dân đoàn kết! Tranh thủ hoàn toàn độc lập!”. Đó “thật là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”[24].
Ngày 2-9-1945, Lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình. Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc. Người khẳng định:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[25].
Là linh hồn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kiến trúc sư của thể chế chính trị cộng hoà dân chủ Việt Nam, rồi tiếp tục cùng cả dân tộc kiên cường kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975) với quyết tâm “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, "Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội"[26].
Tác giả: PGS.TS Vũ Quang Hiển
Nguồn: http://www.ussh.vnu.edu.vn


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 113
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 112-132.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 137.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 520.
[5] Vũ Anh: Hồi ký Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1960, tr. 120.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Sđd, tr. 124-125.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 230.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Sđd, tr. 242
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Sđd, tr. 508.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Sđd, tr. 324.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Sđd, tr. 131.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Sđd, tr. 130.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Sđd, tr. 130.
[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Sđd, tr. 596.
[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 2, Sđd, tr. 292.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Sđd, tr. 114.
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Sđd, tr 127.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Sđd, tr. 150.
[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Sđd, tr. 537.
[20] Sau khi Nhật đảo chính lật đổ Pháp ở Đông Dương (9-3-1945), vua Bảo Đại mời Trần Trọng Kim - một trí thức không đảng phái, một người từng làm công tác quản lí giáo dục và viết sử, tuy nhiệt tâm yêu nước nhưng chưa phải là một người cách mạng. Vua Bảo Đại đã từng nói với Trần Trọng Kim: "Trước kia người mình chưa độc lập, nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta...". Xem: Trần Trọng Kim: Một cơn gió bụi, Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, Sài Gòn, tr. 51.
[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 3, Sđd, tr. 595.
[22] Trước khí thế cách mạng của quần chúng trong những ngày tháng Tám, Khâm sai Bắc Bộ là Phan Kế Toại từ chức, nhiều trí thức trong nội các do Bảo Đại thành lập tỏ rõ thái độ ủng hộ Việt Minh, kính trọng và khâm phục Hồ Chí Minh. Mặt trận Việt Minh không những không bắt bớ hay trả thù một người nào trong chính phủ Trần Trọng Kim mà còn lôi cuốn được một số bộ trưởng tham gia vào Chính phủ Liên hiệp sau này. Với bản chất yêu dân yêu nước, lại được Hồ Chí Minh tin dùng, nhiều trí thức lúc đó tiếp tục đóng góp tài sức cho dân, cho nước, tiêu biểu là Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch…
[23] Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1977, tr. 102.
[24] Việt Nam dân quốc công báo, ngày 29-9-1945.
[25] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 3.
[26] Nghị quyết của UNESSCO, Hội thảo quốc tế Chủ tịch Hồ chí Minh Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1990, tr. 5.
Xem thêm…

Đồng chí Trường Chinh - người thực hành và phát triển xuất sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

08:30 |
Đồng chí Trường Chinh là người chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam. Quá trình hoạt động cách mạng, Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp rèn luyện, trở thành cộng sự gần gũi nhất và là người thực hành, phát triển xuất sắc tư tưởng cách mạng của Người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với Tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam Trường Chinh tại Hà Nội, tháng 01-1955. (Ảnh tư liệu)
Đồng chí Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 09-02-1907 ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình trí thức yêu nước. Truyền thống của quê hương và gia đình đã hun đúc lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng của Ông. Sau khi tìm hiểu “Đường Kách mệnh” và các tác phẩm khác của Nguyễn Ái Quốc, Đồng chí được giác ngộ tham gia Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên năm 1927, tiến trình vận động thành lập Đảng và là một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối năm 1930, Đồng chí bị thực dân Pháp bắt và đày đi Sơn La. Dù trong ngục tù, hay khi được trả tự do, Đồng chí đều tích cực truyền bá cương lĩnh, đường lối của Đảng, góp phần vào cuộc vận động dân chủ do Đảng ta lãnh đạo từ năm 1936 đến 1939. Năm 1940, trước sự khủng bố ác liệt của thực dân Pháp, nhiều đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt và giết hại, hệ thống tổ chức của Đảng tổn thất nặng; Đồng chí đã khéo léo vượt qua sự truy lùng gắt gao của kẻ thù, nỗ lực tổ chức lại bộ máy của Đảng và đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng.
Đồng chí Trường Chinh được giao và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị Dự thảo Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII (5-1941). Tại Hội nghị này, Đồng chí được bầu là Tổng Bí thư của Đảng. Hội nghị đánh dấu sự chuyến biến cực kỳ quan trọng về chỉ đạo chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Có thể khẳng định, Nghị quyết Trung ương VIII chính là sự thực hành sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh - một vấn đề chiến lược còn mới đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Điểm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc của đồng chí Trường Chinh thể hiện rất rõ ở quan điểm tập hợp lực lượng cách mạng. Để đoàn kết được lực lượng cách mạng toàn dân tộc, Hội nghị Trung ương VIII đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) và các đoàn thể “cứu quốc”, lấy liên minh công nông làm nòng cốt, tranh thủ đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng và cá nhân yêu nước, phản đế, không kể họ thuộc tầng lớp, giai cấp nào, như Nghị quyết khẳng định: “Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật”1; “Muốn làm tròn nhiệm vụ ấy, trước hết tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp – Nhật xâm chiếm nước ta”2.
Cùng với vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, Nghị quyết còn chỉ đạo rất đúng về chuẩn bị lực lượng, nắm và tận dụng thời cơ cách mạng để sẵn sàng Tổng khởi nghĩa. Đồng chí Trường Chinh từng nhấn mạnh: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”3. Đặc biệt, Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thể hiện một nhãn quan tuyệt vời trong nghệ thuật nắm bắt thời cơ, như đồng chí Lê Đức Thọ khẳng định: “Có thể nói, không có chỉ thị này ta sẽ bỏ lỡ thời cơ khi Nhật - Pháp bắn nhau và không chuẩn bị sẵn sàng để tiến tới Tổng khởi nghĩa khi Nhật bị thất bại”4. Đánh giá về sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1944, Bác Hồ đi vắng, có thời gian khá dài, không có tin tức, trên cương vị Tổng Bí thư, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, anh Trường Chinh đã đảm nhiệm trọng trách lãnh đạo phong trào và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nổi bật nhất là anh dự báo việc Nhật Pháp bắn nhau và sớm thay mặt Thường vụ Trung ương thảo ra Chỉ thị: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”5.
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (02-1951), Tổng Bí Thư Trường Chinh đã có nhiều đóng góp vào phát triển lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam. Có thể nói, đây là một văn kiện lịch sử, góp phần bổ sung và phát triển lý luận của Hồ Chí Minh và Đảng ta về cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến hành trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến trong thời đại mới. Tổng kết kinh nghiệm cách mạng Việt Nam, Ông cho rằng, hai nhiệm vụ phản đế và phản phong phải khăng khít không thể tách rời nhau, nhưng cũng không thể tiến hành song song nhất loạt ngang nhau. Khăng khít với nhau là vấn đề chiến lược, không tiến hành song song nhất loạt ngang nhau là vấn đề sách lược và phải đặt nhiệm vụ phản đế lên hàng đầu; nhiệm vụ phản phong phải phục vụ phản đế. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là tiền đề của cách mạng xã hội chủ nghĩa; cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hai quá trình khác nhau nhưng kế tiếp nhau không đứt đoạn, có nhiệm vụ của giai đoạn sau đã bắt đầu từ giai đoạn trước và có nhiệm vụ của giai đoạn trước, sang giai đoạn sau mới có thể hoàn thành. “Tóm lại, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, trừ diệt bọn phản quốc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, kiến thiết một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, phát triển chế độ dân chủ, nhân dân Việt Nam do con đường dân chủ nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội.”6. Nếu như trong Chính cương vắn tắt của Đảng mới chỉ đề cập “để đi tới xã hội cộng sản”, mà chưa chỉ rõ là đi tới bằng cách nào thì đến Đại hội II, trong Bàn về cách mạng Việt Nam, đồng chí Trường Chinh căn cứ tình hình thực tiễn của cách mạng đã khẳng định: con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội, không có con đường nào khác. Muốn tiến tới chủ nghĩa xã hội, phải qua nhiều giai đoạn, chứ không phải một giai đoạn. Những giai đoạn đó, không dứt mạch mà liên quan mật thiết với nhau. Quan niệm giản đơn muốn “vượt bỏ giai đoạn” cũng như khuynh hướng “từ từ từng bước” đều sai: “Con đường từ nay đến chủ nghĩa xã hội là một con đường khó khăn và dài. Không thể giạng chân ra mà bước một bước khổng lồ để đến ngay chủ nghĩa xã hội. Phải bước nhiều bước, chia thành nhiều độ mà đi”7. Trong cả quá trình đó mầm mống của chủ nghĩa xã hội được xây dựng, củng cố và phát triển dần dần. Nhưng chủ nghĩa tư bản dân tộc cũng sẽ phát triển. Sau cùng, cuộc đấu tranh giữa hai nhân tố xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ kết thúc bằng sự thắng lợi của nhân tố xã hội chủ nghĩa và sẽ đưa nước Việt Nam đến chủ nghĩa xã hội, bước đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Đồng chí Trường Chinh đọc Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng, tháng 12-1986. (Ảnh tư liệu)
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, cũng là lúc xuất hiện tư tưởng chủ quan, tự mãn. Cùng với nhận thức sai lầm, mang tư duy, cung cách quản lý thời chiến sang áp dụng quản lý xã hội, quản lý kinh tế trong thời bình càng làm cho đất nước lâm vào trì trệ, khó khăn. Trước thực trạng đó, một lần nữa, tư duy sáng tạo, đổi mới của Ông lại in dấu ấn sâu đậm vào cuộc chuyển hướng chiến lược vĩ đại của đất nước. Trường Chinh cho rằng, chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo chiến lược chứ không phải chỉ về mặt lãnh đạo kinh tế. Vì vậy, năm 1986, Đồng chí là một trong những người tích cực đề xuất với Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, nhằm vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Theo quan điểm của Ông, để đổi mới phải: “dựa trên những bài học được đúc kết từ những thắng lợi đã đạt được và những khuyết điểm, sai lầm mà chúng ta đã phạm trong 11 năm qua…”8. Đó là các bài học: “sức mạnh của một nước, của cách mạng chính là ở nhân dân”, “tôn trọng quy luật khách quan, vận dụng đúng đắn, hành động theo quy luật chính là cách đi lên chủ nghĩa xã hội đúng nhất và nhanh nhất, không có con đường nào khác”, “phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng”. Trong báo cáo trước Đại hội VI của Đảng, Tổng Bí thư Trường Chinh đã nêu rõ phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, v.v. Từ sự đổi mới tư duy có tính chất đột phá của Đại hội VI mà Trường Chinh là người đi đầu cho sự đổi mới đó, đến Đại hội VII, lần đầu tiên Đảng ta nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”.
Cách mạng Việt Nam là quá trình không ngừng sáng tạo, đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗ lực của toàn dân. Ánh hào quang của ngày hôm qua là tiền đề quan trọng, nhưng cũng có thể có mặt trở thành yếu tố cản đường của ngày hôm nay nếu như không đổi mới hoặc đổi mới không phù hợp, không theo kịp với sự phát triển của thực tiễn. Vì thế, người Cộng sản, người cách mạng chân chính chỉ trân trọng những thành tựu đã đạt được trong quá khứ là chưa đủ, mà cần phải dũng cảm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong tiến trình đổi mới, trong đó bao hàm cả sự dám gạt bỏ những gì của hôm qua vốn là ưu điểm nhưng hôm nay không còn thích hợp nữa. Đó cũng là một sự giải phóng, giải phóng tư duy nhận thức khỏi những lối mòn, cái cũ kỹ, lạc hậu. Tổng Bí thư Trường Chinh chính là hiện thân của phẩm chất ấy và một trong số người như thế - xứng đáng là học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
TS. NGUYỄN XUÂN TRUNG, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nguồn: http://tapchiqptd.vn
1 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 112.
2 - Sđd, tr. 112-113.
3 - Sđd, tr. 113.
4 - Cách mạng Tháng Tám - Thời cơ nghìn năm có một, Nxb QĐND, H. 2009, tr. 28.
5 - “Trường Chinh - ngôi sao sáng trên bầu trời Cách mạng Tháng Tám”, (TTXVN/Vietnam+) 13-8-2015, 12:39 GMT+7.
6 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 76.
7 - Sđd, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 91.
8 - Trường Chinh - Nắm vững ba bài học lớn để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, Nxb ST, H. 1986, tr. 10
Xem thêm…

Quan điểm của Đảng ta về xây dựng thế trận an ninh nhân dân

08:27 |


Gắn bó mật thiết với nhân dân là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Trong lãnh đạo đường lối bảo vệ an ninh, trật tự, nguyên tắc này được cụ thể hóa thành định hướng chiến lược: xây dựng “thế trận an ninh nhân dân”. Để thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, lực lượng công an cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp.

Gắn bó mật thiết với nhân dân là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng, là kết quả của sự kế thừa, phát triển, vận dụng sáng tạo truyền thống dân tộc, học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hơn 86 năm qua, Đảng ta kiên định thực hiện nguyên tắc lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối chính trị xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, dựa vào dân, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong lãnh đạo đường lối bảo vệ an ninh, trật tự, nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân được Đảng cụ thể hóa thành định hướng chiến lược: xây dựng “thế trận an ninh nhân dân”, trở thành nghệ thuật huy động, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Tư tưởng phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc đã được thể hiện trong đường lối đấu tranh chống phản cách mạng của Đảng ta trước đây, bắt đầu từ phong trào “ba không” trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phong trào “bảo mật phòng gian” kết hợp với phong trào “bảo vệ trị an” trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” sau này. Tuy nhiên, đến Đại hội VII, thuật ngữ “thế trận an ninh nhân dân” mới chính thức được đề cập, Đảng nêu rõ: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn dân và Nhà nước. Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới, với lực lượng nòng cốt và tinh nhuệ”.
Tại Đại hội VIII, lần đầu tiên thuật ngữ “nền an ninh nhân dân” chính thức được đề cập, gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân. Đảng nhấn mạnh: “Kết hợp thành chiến lược thống nhất giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ an ninh, trật tự; kết hợp củng cố nền quốc phòng toàn dân với xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đoàn kết toàn dân, phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”.
Quan điểm của Đảng về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được khẳng định tại Đại hội IX, X, XI, XII. Tại Đại hội X, thuật ngữ “thế trận lòng dân” được Đảng ta đề cập và xác định: “Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng chỉ rõ “sức mạnh quốc phòng, an ninh là sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”tiếp tục nhấn mạnh: “không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”, “xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới”. Tại Đại hội XII, nhận thức về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân được phát triển lên tầm cao mới: “Xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”(1).
Có thể thấy, nhận thức lý luận, tư tưởng, quan điểm của Đảng về xây dựng thế trận an ninh nhân dân được bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện, với những nội dung cơ bản:
(1) Xây dựng thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.
(2) Thế trận an ninh nhân dân của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được xây dựng, củng cố theo hướng toàn dân, toàn diện, trên nền tảng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và sự ổn định, phát triển bền vững của mọi mặt đời sống xã hội.
(3) Phát huy sức mạnh vật chất (tiềm lực kinh tế), sức mạnh tinh thần (tiềm lực văn hóa - xã hội), sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại, nội lực với ngoại lực để xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân.
(4) Lực lượng nòng cốt tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân là công an, có trách nhiệm tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương phát động phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng, triển khai các đề án, phương án, kế hoạch, bố trí lực lượng bảo đảm an ninh trên các tuyến, địa bàn, lĩnh vực nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh, trật tự của đất nước.
(5) Kết hợp thế trận an ninh nhân dân với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng về thế trận an ninh nhân dân, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Điều 3, Khoản 10 quy định: “Thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia”; nhiệm vụ xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân được quy định tại Điều 16:
“1. Vận động toàn dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, giáo dục, động viên cán bộ, công chức, người lao động và mọi công dân tham gia xây dựng địa phương, cơ quan, tổ chức vững mạnh; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và kết hợp chặt chẽ với xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
3. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh quốc gia.
4. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia vững mạnh; xây dựng các phương án và tổ chức, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống”.
Trong những năm qua, quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, lực lượng Công an nhân dân đã chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp xây dựng, củng cố vững chắc cơ sở chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân và sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm sự ổn định, vững mạnh của hệ thống chính trị; chăm lo giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Chủ động xây dựng, triển khai các đề án, chương trình, kế hoạch; bố trí lực lượng, phương tiện bảo đảm an ninh, trật tự trên các tuyến, địa bàn, lĩnh vực. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, địa phương trong tổ chức phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng địa bàn, lĩnh vực. Qua đó, thế trận an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố, kết hợp chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân, nhất là trên các địa bàn chiến lược, xung yếu, phức tạp; quan hệ phối hợp giữa Công an nhân dân với các cấp, các ngành được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu. Khơi dậy, quy tụ và phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự, trong đó, nhân dân đã cung cấp hàng triệu tin có liên quan đến an ninh, trật tự, rất nhiều tin có giá trị giúp cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý nhiều vụ án nghiêm trọng, giải quyết ổn định nhiều vụ việc phức tạp ngay từ đầu và tại cơ sở. Lực lượng công an nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, đa dạng, khó lường. Sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ Tổ quốc có nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau. Các hoạt động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta vẫn gia tăng, bất chấp luật pháp quốc tế. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên cùng với sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, tình trạng phân cực giàu nghèo, khiếu kiện đông người có xu hướng ngày càng tăng. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin tiềm ẩn nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia. Tình trạng vi phạm pháp luật, tội phạm có xu hướng gia tăng, trật tự, an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự đặt ra hết sức nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, an ninh và an toàn xã hội phục vụ xây dựng và phát triển đất nước. Thời gian tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, lực lượng công an cần tập trung thực hiện hiệu quả một số công tác trọng tâm sau:
Một là, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Công an về xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, trọng tâm là Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 01-12-2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; Chỉ thị số 04/CT-BCA-V28, ngày 21-4-2014 của Bộ Công an về “Tăng cường xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”.
Hai là, chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Có chủ trương, giải pháp giúp nhân dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh; phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng dân cư; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, tập trung giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở các vụ khiếu kiện tranh chấp có liên quan trực tiếp đến lợi ích chính đáng của người dân, không để phát sinh thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực làm chủ của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự.
Ba là, xây dựng, triển khai thực hiện có hiệu quả các phương án, kế hoạch phòng, chống gây rối, biểu tình, bạo loạn, khủng bố; các đề án đảm bảo an ninh chính trị nội bộ, an ninh tư tưởng, văn hóa, an ninh kinh tế, an ninh thông tin. Tăng cường công tác nắm tình hình, xác lập các tuyến, lĩnh vực, địa bàn trọng điểm và có kế hoạch bố trí lực lượng, phương tiện, nguồn lực cần thiết để xây dựng thế trận an ninh liên hoàn, gắn kết với kế hoạch nghiệp vụ khác, giành thế chủ động trong phòng ngừa, tấn công các loại tội phạm. Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an ninh, trật tự, phát hiện những quy định không còn phù hợp để kiến nghị bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng và củng cố thế trận an ninh nhân dân.
Bốn là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, huy động cho được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự. Tăng cường công tác tuyên truyền nêu gương người tốt, việc tốt; động viên, khích lệ nhân dân tích cực tham gia xây dựng khu dân cư, xã, phường, doanh nghiệp, nhà trường an toàn; xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến; kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc; có chính sách thỏa đáng đối với những trường hợp bị thương, hy sinh hoặc bị thiệt hại về tài sản, danh dự khi tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an nhân dân với Quân đội nhân dân và các ban, bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân. Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự với các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc.
Năm là, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bố trí hợp lý cơ cấu, tổ chức, nhiệm vụ của các lực lượng trong Công an nhân dân, nhất là ở các tuyến, địa bàn trọng điểm, Công an cấp huyện, các đơn vị trực tiếp chiến đấu; xây dựng lực lượng công an xã, lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở trong sạch, vững mạnh. Bảo đảm yêu cầu xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, thực sự vì dân, gần dân, được dân tin yêu, ủng hộ, giúp đỡ - đó là nhân tố cơ bản để lực lượng công an làm tốt vai trò tham mưu phối hợp xây dựng và củng cố thế trận an ninh nhân dân. Quan tâm đầu tư ngân sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật và ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ công tác, chiến đấu đối với lực lượng Công an nhân dân và lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân. Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân tại các nhà trường Công an nhân dân và các lớp giáo dục quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Sáu là, tiếp tục tham mưu cho Đảng, cùng các ngành, các cấp thực hiện tốt đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đặc biệt là Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Chú trọng yêu cầu phát triển nền văn hóa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; xây dựng con người Việt Nam giàu tinh thần yêu nước, văn minh, hiện đại - nhân tố quyết định đến sự phát triển của đất nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2016
(1) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.149.

Thượng tướng, GS, TS TÔ LÂM
Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an
Xem thêm…

Không thể bác bỏ học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin

08:25 |
Kết quả hình ảnh cho cac mac
Trong quá trình chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch luôn nhằm vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta; trong đó, có học thuyết kinh tế Mác – Lê-nin. Chúng xuyên tạc rằng, học thuyết kinh tế ấy đã lỗi thời, không còn mang tính cách mạng và khoa học, vì thế không có ích gì cho đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam.

I. Không thể phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước và tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế là đúng về lý luận và phù hợp với thực tiễn. Vậy mà, một số người lại cho rằng, kinh tế nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo, vai trò đó thuộc về kinh tế tư nhân. Từ đấy họ kêu gọi tư nhân hóa nền kinh tế. Xem xét một cách khách quan, khoa học, thì đó là điều không thể.
1. Không thể phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước.
Mỗi chế độ xã hội bao giờ cũng có quan hệ sản xuất thống trị, theo đó có thành phần kinh tế chủ đạo. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thành phần kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là chủ yếu, là nền tảng. Ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng có kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước được xây dựng trên cơ sở sở hữu nhà nước tư bản độc quyền. Dù họ không xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng kinh tế nhà nước tư bản độc quyền có vai trò to lớn.
Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay có nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu. Song, sở hữu nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước là đặc trưng, giữ vai trò chủ đạo và là một trong các yếu tố quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó được khẳng định tại Khoản 1, Điều 51, Hiến pháp năm 20131, là hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn nước ta.
Kinh tế nhà nước đã và đang giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước được cấu thành từ: (1) Bộ phận doanh nghiệp gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối; (2) Bộ phận phi doanh nghiệp, ngoài các tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn bao gồm cả đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, v.v. Với phạm vi rộng lớn như vậy, sở hữu nhà nước và kinh tế nhà nước giữ vị trí trọng yếu, vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nền tảng cơ bản để phát triển mọi ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp; đã và đang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Trong đó, hệ thống doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt, đang được đổi mới, mặc dù tỷ trọng GDP có giảm sút từ 29,34% năm 2010, còn 29,01% năm 2013 và 28,69% năm 2015, nhưng vẫn giữ vai trò chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt, tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn Nhà nước cần nắm giữ, v.v. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước do sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa nên tuy số lượng giảm, lĩnh vực, địa bàn thu hẹp, nhưng vẫn có bước phát triển mạnh về quy mô tài sản, doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách nhà nước. Năm 2013, riêng 18 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn có vốn nhà nước là 840 nghìn tỷ đồng (chiếm 83% vốn nhà nước tại doanh nghiệp), tổng giá trị tài sản 1.985 nghìn tỷ đồng, tổng doanh thu 1.184 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 136 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 191 nghìn tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhà nước đã trở thành lực lượng nòng cốt để thực hiện vai trò quan trọng trong ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần to lớn trong đảm bảo quốc phòng - an ninh, an ninh lương thực, an ninh năng lượng quốc gia. Kinh tế nhà nước là lực lượng chủ yếu hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới, là lực lượng đầu tư vào những lĩnh vực, các công trình,… trọng điểm quốc gia đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm và lợi nhuận thấp, v.v. Đồng thời, là đội quân chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút FDI, có vai trò tích cực trong việc hạn chế những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế nước ta trong các năm 2008 - 2010. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoạt động thực sự có hiệu quả, như: Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Tập đoàn Công nghiệp hóa chất, Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản, v.v.
Tuy nhiên, kinh tế nhà nước cũng có những hạn chế, yếu kém. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng suất của tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước còn thấp và rất thấp. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu, thất thoát và thua lỗ còn lớn. Tình trạng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, độc quyền doanh nghiệp đang hiện hữu, làm méo mó quan hệ thị trường, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, hạn chế sự cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế, v.v. Một số người chỉ dựa vào những yếu kém, hạn chế của kinh tế nhà nước mà cho rằng thành phần kinh tế này không thể giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế; rằng xác định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Việt Nam đã phải trả giá quá đắt”(!) Từ đó, họ đòi xóa bỏ vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này; đòi tư nhân hóa hết doanh nghiệp nhà nước, “khuyên” ta nên bỏ cụm từ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”,... đều là những cách nhìn phiến diện.
Mặc dù doanh nghiệp nhà nước (bộ phận nòng cốt của kinh tế nhà nước) thời gian qua có những hạn chế, yếu kém, nhưng đó là những yếu kém trong khâu tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, là sai lầm và yếu kém của một số cá nhân lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp,… chứ không phải là sai lầm về quan điểm, chủ trương kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Hơn nữa, nhìn chung toàn bộ nền kinh tế; trong đó, có kinh tế nhà nước dựa trên lực lượng sản xuất còn thấp kém, cùng với nền kinh tế thị trường còn rất mới và hội nhập quốc tế, thì những hạn chế, yếu kém của doanh nghiệp nước ta nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng là khó tránh khỏi. Thực tế cũng cho thấy, ở Việt Nam, không phải mọi doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hoạt động có hiệu quả. Chúng ta đã và đang chứng kiến nhiều “đại gia” của kinh tế tư nhân “ngã ngựa”; thua lỗ, mất trắng doanh nghiệp, phải đi làm thuê hoặc rơi vào vòng lao lý, tù tội, v.v. Vậy là, hiệu quả sản xuất, kinh doanh không hẳn là do sở hữu quyết định. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng không ít doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, yếu kém,… do yếu tố cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế,… gây ra.
2. Không thể tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế tư nhân.
Thành phần kinh tế tư nhân ra đời trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân, hay chế độ tư hữu (sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân) và bao gồm: thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân (nói gọn là tư nhân và cá thể). Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, thì kinh tế tư nhân được thừa nhận và khuyến khích phát triển; coi đó là “vấn đề chiến lược lâu dài” trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đến nay, kinh tế tư nhân đã phát triển và trở thành lực lượng kinh tế lớn mạnh, đóng vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế, góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích các chủ thể kinh tế tư nhân làm giàu hợp pháp và góp phần làm giàu cho xã hội là cách thức quan trọng giải phóng sức sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Trước hết, kinh tế tư nhân đã góp phần huy động các nguồn lực (vốn, nhân công, khoa học - công nghệ) vào sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sự phát triển của kinh tế tư nhân tạo sức ép thúc đẩy đổi mới doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và đổi mới quản lý nhà nước; tạo ra đội ngũ doanh nhân năng động, có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Qua 30 năm đổi mới, diện mạo của khu vực kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi rõ rệt; số lượng doanh nghiệp tư nhân không ngừng phát triển với quy mô rộng lớn hơn, tham gia ở tất cả các lĩnh vực, từ sản xuất đến thương mại, dịch vụ (cả dịch vụ công),... đóng góp ngày càng nhiều cho kinh tế và xã hội. Hiện cả nước có khoảng 500.000 doanh nghiệp tư nhân, chiếm 90% số doanh nghiệp cả nước và khoảng 1 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ. Trong giai đoạn 2006 - 2015, so với kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khu vực kinh tế tư nhân đóng góp hơn 40% GDP của cả nước; 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp; khoảng 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ; 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa vận chuyển. Giai đoạn 2011 - 2015, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 36% tổng vốn đầu tư phát triển; thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm, góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội. Ưu thế nổi bật của kinh tế tư nhân trong giải quyết việc làm là có thể thu hút được lực lượng lao động đa dạng: từ lao động có trình độ cao đến lao động giản đơn; mức đầu tư cho một chỗ làm việc thấp hơn so với các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, nó có sức vươn lên mạnh mẽ, đóng góp nhiều vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Song, không vì thế mà đề cao quá mức, dẫn đến tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, rằng kinh tế tư nhân là ''nền tảng'' của nền kinh tế và gán cho nó ''vai trò chủ đạo'' - vai trò mà bản thân nó không bao giờ đảm nhận nổi. Hiện nay, có tới 98% doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân có quy mô vừa và nhỏ; trong đó, doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ (sử dụng dưới 5 lao động và vốn kinh doanh dưới 10 tỷ đồng) chiếm tỷ trọng đáng kể (96%). Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân lớn trong số doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp, so với quy mô của các doanh nghiệp tư nhân nước ngoài thì cũng chẳng đáng là bao.
Hằng năm, VnReport công bố danh sách tốp 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, tính cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân, số doanh nghiệp tư nhân trong tốp 500 và tốp 100 có tăng, nhưng chưa nhiều. Ở Việt Nam, tập đoàn kinh tế tư nhân đã hình thành và ngày càng mang dáng vóc của một tập đoàn kinh tế, như: VinGroup, Hòa Phát, TH True Milk, Macsan, SunGroup,… nhưng còn rất ít. Sự đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP đã lên đến trên 40%, nhưng chủ yếu là của bộ phận cá thể, còn doanh nghiệp tư nhân đóng góp tỷ lệ rất nhỏ. Năm 2005, đóng góp vào GDP của doanh nghiệp tư nhân là 8,51%, bộ phận cá thể là 32,06%; con số tương ứng của năm 2010 là: 6,90% và 32,07%; năm 2015 là 7,80% và 31,33% và năm 2016 là 7,90% và 31,50%2, v.v. Mức đóng góp vào GDP của kinh tế tư nhân như vậy thì làm sao đảm đương nổi “vai trò chủ đạo”? Cùng với đó, năng lực cạnh tranh của thành phần kinh tế này còn thấp, chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chưa cao, nguồn lực tài chính và trình độ trang thiết bị kỹ thuật còn nhỏ bé, thấp kém. Năng lực quản trị còn nhiều hạn chế, đại bộ phận các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân thực hiện kinh doanh theo “kiểu ngắn hạn”, chưa hoạch định được chiến lược kinh doanh dài hạn, v.v. Ngoài ra, vẫn còn tồn tại “tính tự phát”, “vô chính phủ” trong sản xuất, kinh doanh. Hơn nữa, tư nhân không muốn và không đủ sức đầu tư vào những công trình lớn, xây dựng dài ngày, hiệu quả đầu tư thấp, thu hồi vốn chậm và những công trình công ích lãi suất thấp hoặc phi lợi nhuận. Từ đó cho thấy, nếu giao “vai trò chủ đạo” nền kinh tế cho kinh tế tư nhân thì chẳng khác gì giao một nhiệm vụ “không tưởng” vượt khỏi khả năng đảm đương của nó. Như vậy, không nên ảo tưởng rằng, kinh tế tư nhân có thể đóng ''vai trò chủ đạo” nền kinh tế.
Đảng ta đã xác định xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế là định hướng chính trị đúng đắn và hoàn toàn phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Một số người đã tìm cách cổ súy, cố tình đòi tư nhân hóa nền kinh tế, là thông qua kinh tế để chuyển hóa về chính trị Việt Nam. Bởi cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, khi tư nhân hóa nền kinh tế thì tất yếu đất nước sẽ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Đây là mưu đồ rất nguy hiểm. Chúng ta hãy cảnh giác với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những ý kiến phủ nhận đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, hạ thấp vai trò của kinh tế nhà nước, cổ vũ cho tư nhân hóa nền kinh tế, tiến tới làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta.
GS, TS. CHU VĂN CẤP
Nguồn: http://tapchiqptd.vn_______________
1 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 25.
2 - Thời báo Kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2016 - 2017, Việt Nam và thế giới, tr.102.
Xem thêm…


Thế hệ Hồ Chí Minh | Ban Quản lý Lăng Bác | Bảo tàng Hồ Chí Minh | Học viện Chính trị Quốc gia |